Enterprise Service Bus (ESB) – Khái niệm (p1)

Posted on April 27, 2007

0


Hệ thống mạng doanh nghiệp thường triển khai các ứng dụng,các nền tảng và các quy trình nghiệp vụ khác nhau. Một yêu cầu thiết yếu là chúng cần được liên kết và trao đổi thông tin với nhau. Nhưng có một vấn đề phổ biến là chúng không sử dụng một loại định dạng dữ liệu chung cũng như không có một chuẩn giao tiếp chung. Nếu doanh nghiệp cần giao tiếp với các hệ thống bên ngoài, vấn đề tích hợp sẽ mở rộng ra khỏi phạm vi của công ty, nó bao chùm lên các hệ thống và quy trình nghiệp vụ của các doanh nghiệp khác nhau.

Trong những năm gần đây, đã có một vài công nghệ tập trung vào giải quyết những vấn đề trên như EAI(Enterprise Application Integrarion), Business to Business (B2B), SOA và Web services. Những giải pháp trên tập trung vào một vài vấn đề về tích hợp, nhưng chúng thường thuộc về một công ty nào đó, đắt và tốn thời gian để thực hiện. Những vấn đề trên xảy ra từ giải pháp của các công ty lớn (giá cao, phụ thuộc vào công ty phát triển) cho đến hệ thống nhỏ hơn của những cộng đồng phát triên(chi phí cho việc bảo trì cao). Những điểm yếu lớn nhất của những giải pháp trên là giá thành cao, không khả chuyển đi kèm với vấn đề không được chuẩn hóa.

Hướng tiếp cận ESB

Một hệ thống ESB theo chuẩn giải quyết các vấn đề liên quan đến việc tích hợp mà không cần phải xóa bỏ những giải pháp có sẵn. Mục đích của ESB là làm cho việc tích hợp các ứng dụng và quy trình trở nên thuận tiện hơn bằng cách cung cấp một quy trình phân tán, điều hướng thông minh, bảo mật và có thể tự động chuyển đổi dữ liệu. Trong hệ thống ESB những dịch vụ trên là những dịch vụ nền tảng do đó các ứng dụng không cần phải thi hành riêng biệt những yêu cầu trên theo một cách thức riêng biệt của chúng.

ESB tập trung vào giải quyết những điểm yếu của những giải pháp có sẵn bằng cách tạo ra một nền tảng chuẩn cho việc tích hợp. Giải pháp point to point, yêu cầu cứ n thành phần tham gia hệ thống thì phải có n-1 interface để có thể giao tiếp được với các thành phần còn lại, được thay thế bằng giải pháp bus, mỗi thành phần chỉ yêu cầu có 1 interface để giao tiếp với bus và thông qua bus để giao tiếp với các thành phần còn lại. Một hệ thống ESB cung cấp việc giao tiếp phân tán, chuyển hướng, xử lý nghiệp vụ, ổn định và bảo mật. Nó cũng cung cấp các dịch vụ có khả năng plug-and-play bởi vì nó dựa trên chuẩn nên những dịch vụ plug-and-play này có thể được cung cấp bởi các công ty khác và hoạt động trên bus.

Các đặt tính của một hệ thống nền tảng tích hợp ESB:

  • Phân tán – loại bỏ những ràng buộc về triển khai hệ thống
  • Dựa trên việc trao đổi message – tăng sự liên kết yếu
  • Dựa trên các chuẩn mở – để không bị phụ thuộc vào một công ty nào và khuyến khích các thành phần khác nhau tham gia xây dựng.
  • Ổn định – để thỏa mãn những yêu cầu về thực thi nghiệp vụ

Vì là một nền tảng tích hợp, ESB còn cung cấp một số chức năng sau

  • Chuyển hướng.
  • Chuyển đổi dữ liệu
  • Tính rõ ràng – việc chuyển hướng dựa trên nội dung của message.

ESB còn hỗ trợ các yêu cầu như là bảo mật, orchestration và transaction. Những yêu cầu cần phải có trong việc tích hợp nhưng lại không tồn tại sẵn trong kiến trúc hướng dịch vụ. Một trong những yêu cầu chính của ESB là giảm tính liến kết của các thành phần tham gia, việc tích hợp dựa trên hướng dịch vụ là một mức độ của tính ổn định và bảo mật trong các hệ thống doanh nghiệp.
Một trong những yêu cầu mới của các hệ thống ESB là khả năng không chỉ là giảm tính liên kết trong kiến trúc hướng dịch vụ mà còn cung cấp nền tảng cho kiến trúc điều khiển theo sự kiện (EDA). SOA và EDA cung cấp những tính năng bổ sung được cho nhau. Trong EDA một sự kiện trong hệ thống tạo ra một message để gửi đến các ứng dụng khác, những ứng dụng mà không liên kết với ứng dụng đã tạo ra sự kiện. Đó là một hoạt động bất đồng bộ như vậy ứng dụng kia có thể nhận hoặc lấy message vào bất cứ lúc nào, nó là bổ sung cho kiến trúc SOA nơi mà mô hình trao đổi message được thiết kế đồng bộ.
Trong phần 2 chúng ta sẽ xem qua chuẩn Java Business Integration (JBI).